Hỏi đáp

Hỏi đáp

Gửi câu hỏi của bạn
*
*
 Captcha
  • Trả lời: 

    Nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao nhỏ, được đầu tư bài bản đang đem lại những kết quả khả quan không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Hiệu quả nuôi được thể hiện dưới nhiều góc độ: khả năng kiểm soát môi trường và mầm bệnh tốt hơn, cho phép nuôi mật độ cao (150 – 300 con/m2) để cải thiện năng suất (25 – 40 tấn/ha/vụ), hiệu quả cao hơn khi cần nhanh chóng thay đổi hoặc cải thiện môi trường nuôi, tiết kiệm chi phí sản xuất (hóa chất, vôi, vi sinh, thức ăn, nhân công) nhờ đó có cơ hội giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận thu về. Ao nhỏ còn phù hợp với qui mô và giá cả của các trang thiết bị hỗ trợ hiện có trên thị trường, đặc biệt là hệ thống cung cấp oxy hòa tan (quạt nước, sục khí đáy hoặc sục lủi) hoặc xử lý nước bằng phương pháp vật lý (lọc, tia cực tím, ozone, siêu âm hay công nghệ nano).

    Mô hình nuôi tôm theo qui trình semi-biofloc của Trang trại Nuôi trồng Thủy sản Chính Mỹ ở Khánh Hòa sử dụng ao 1.200 – 1.500 m2, đầu tư hiện đại chỉ có chi phí sản xuất ở mức 60.000 đồng/kg với năng suất ổn định từ 4 – 5 tấn/ao/vụ (Hình 1). Với năng suất và chi phí sản xuất này, một khu nuôi chuẩn gồm 3 ao nuôi, 1 ao ương và 1 ao chứa nước cấp bù trên diện tích 1 ha, mỗi vụ nuôi có thể đem lại lợi nhuận từ 800 triệu đến 1 tỉ đồng. Cùng đầu tư theo hướng sử dụng ao nhỏ lót bạt, có hệ thống siphone và hệ thống quạt nước đủ mạnh, ông Nguyễn Hữu Khoa chủ đại lý Anh Khoa ở Bình Thuận cho biết “lúc trước một ao nuôi hình chữ nhật diện tích 3.000 m2 nếu nuôi tốt tôi thu 7 – 8 tấn tôm mỗi vụ. Từ khi chia nhỏ thành 2 ao thì quản lý dễ hơn, tổng sản lượng lên đến 10 – 12 tấn/vụ. Quan trọng hơn, khi muốn nâng kiềm hay xử lý nước thì có thể thấy hiệu quả gần như tức thời nhờ ao nhỏ, mức độ khuấy đảo tốt”. Tỉ lệ thành công lên đến hơn 70% tổng số hơn 80 ao nuôi. Cỡ tôm thu hoạch từ 25 – 70 con/kg, phổ biến nhất là 35 – 45 con/m2.

     ""   

    Hình 1: Ao nuôi 1.200 m2 lót bạt, sử dụng công nghệ semi-biofloc (trái) 

    Ao nuôi diện tích nhỏ được thiết kế dạng hình vuông, bo bốn góc, lót bạt HDPE toàn bộ nền đáy và bờ ao để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác vệ sinh, thu gom chất thải cũng như sử dụng quạt nước công suất lớn. Ở một số tỉnh miền Bắc, thay vì lót bạt, người nuôi làm ao bê tông. Tuy nhiên, hiệu quả và đặc biệt là khả năng vệ sinh không tốt bằng giải pháp lót bạt HDPE. Diện tích ao có thể dao động từ 500 – 2.000 m2, phổ biến nhất là tầm 1.200 – 1.600 m2. Độ sâu của ao phụ thuộc vào diện tích bề mặt, được thiết kế để có thể đảm bảo mực nước từ 1,3 – 1,7 m. Đáy ao được xử lý kỹ bằng cách bơm cát, lu nền trước khi lót bạt. Độ dốc về trung tâm của ao không cần phải quá lớn, chỉ đủ để nước dồn về đây khi xả cạn. Nếu bố trí hệ thống quạt hợp lý, chất thải sẽ dồn tụ vào khu vực giữa ao, nơi bố trí hố thu gom chất thải và hệ thống siphon. Người nuôi có thể siphon liên tục trong một khoảng thời gian hoặc chỉ định kỳ với tần suất tăng dần theo thời gian nuôi sao cho chất thải không có cơ hội tích lũy, phân hủy trong môi trường ao nuôi. Đây được coi là bí quyết thành công của các cơ sở nuôi tôm tại Thailand và Indonesia khi dịch bệnh phổ biến, đặc biệt là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND).

    ""

    Hình 2: Tôm đã vào size có thể thu hoạch (phải). Ảnh: Hoàng Tùng.

    Một ao nuôi diện tích 1.500 m2 cần đầu tư 4 giàn quạt, đặt ở gần 4 góc ao. Công suất của motor là 3 mã lực cho mỗi giàn. Trong trường hợp sử dụng 1 motor để chạy cùng lúc 2 giàn quạt đặt ở 2 ao sát nhau thì công suất của motor là 5 mã lực. Số lượng cánh quạt từ 10 – 12 cánh. Chiều dài của trục lap từ bờ đến cánh quạt xa nhất khoảng ½ khoảng cách từ bờ đến giữa ao. Trục lap của giàn quạt nên đặt lệch khoảng 6 – 8o ngửa ra so với trục vuông góc với bờ ao để tạo dòng chảy tốt hơn, thu gom chất thải tốt hơn. Trong tháng nuôi đầu tiên, khi tôm còn nhỏ, chỉ cần đặt một sục lủi công suất 1 mã lực ở giữa ao, kết hợp với hệ thống sục khí đáy dọc bờ ao công suất 2 mã lực là đủ. Từ tháng thứ 2 trở đi, cho tôm ăn bằng máy tự động, chạy liên tục 2 giàn quạt vào ban ngày và tất cả các giàn quạt vào ban đêm. Cứ 2 – 3 ngày siphon một lần. Sang tháng thứ 3 vận hành liên tục các giàn quạt. Nếu cần thiết thì bổ sung thêm để đảm bảo oxy hòa tan và gom tụ chất thải để siphon, đưa vào ao thu gom chất thải. Lợi khuẩn được nhân sinh khối tại chỗ bằng phương pháp đơn giản và bổ sung vào ao hàng ngày. Chính trong môi trường thuận lợi này, tôm giống có chất lượng sẽ đạt tốc độ tăng trưởng tốt nhất có thể.

    Tổng mức đầu tư cho một khu nuôi 1 ha hoàn chỉnh ở mức 1,0 - 1,5 tỉ đồng hay 250 – 300 triệu/ao. Mức đầu tư này có thể là rào cản với các hộ nuôi tôm gia đình, qui mô nhỏ. Tuy nhiên, xét về hiệu quả sản xuất và khả năng kiểm soát rủi ro, việc đầu tư ao nuôi nhỏ, quản lý tốt vẫn hợp lý hơn nhiều so với nuôi diện tích lớn mà đầu tư không xứng tầm trong điều kiện hiện nay.

    .

  • Trả Lời: 

    Trước khi trời mưa, cần bón vôi nung (CaO) bờ ao liều lượng 20kg/1000m2, bón Ca(OH)2 20 kg/1000 m3 nước ao. Sau mưa rút nước tầng mặt ao. Sau đó bón vôi CaCO3 hoặc Dolomite 15-20 kg /lần để ổn định lại pH và độ kiềm. Bón liên tục 2-3 ngày kết hợp quạt khí cho đến khi pH và độ kiềm ổn định. Có thể bổ xung đường cát để giúp tảo phát triển trở lại, lượng bón 0.5-1 kg/1000m3. Giải pháp tốt nhất để quản lý pH là cải tạo ao thật kỹ, bón vôi định kỳ. Quản lý thật tốt màu nước và có ao chứa để xử lý khi pH biến động

  • Trả Lời: 

    Mức qui định phù hợp độ mặn khoảng 10-30‰, tôm sú phát triển tốt nhất ở độ mặn 15-25‰. Biến động trong ngày không quá 5‰. Một nguyên tắc quan trọng trong nghề tôm sú là giảm dần độ mặn và tăng dần độ sâu của nước trong quá trình nuôi. Đầu vụ độ mặn cao, tôm ít nhiễm bệnh, tỷ lệ sống cao. Cuối vụ độ mặn thấp, tôm mau lột xác chóng đạt cỡ thương phẩm và tránh bệnh đóng rong. Độ mặn quá thấp, tôm dễ bị các bệnh mềm vỏ, chất lượng thịt kém (không chắc) và khả năng đề kháng, phòng bệnh kém. Trước khi thả tôm phải kiểm tra độ mặn, nếu độ mặn < 5‰ cần thuần hoá độ mặn từ trại giống và ao ương. Nếu độ mặn thấp hơn 5‰, nên cho Vitamine C-Mix, khoáng chất (Mutagen) và vaccine (Becta-min) nhất là khi tôm trong giai đoạn tuổi 45 ngày trở lên. Trước khi thả tôm nên ngâm với Macroguard tối thiểu 30 phút sẽ sẽ chịu đựng để thích nghi tốt trong môi trường có độ mặn khác nhau. Độ mặn quá cao, tôm dễ bị nhiễm các bệnh do vi khuẩn và chậm lớn (tôm khó lột xác). Độ mặn > 40‰, tôm giảm ăn, ảnh hưởng đến tăng trọng tôm sau 1.5 tháng nuôi đầu, tôm khó lột xác. Năm 2002, ao nuôi ông Đào (Xuân Lâm) và ông Hải (Diễn Kim) đã thành công nhờ có ao chứa điều tiết độ mặn trong quá trình nuôi.

  • Trả Lời: 

    Nuôi tôm là nuôi nước, muốn nuôi tôm thành công thì phải giữ được màu nước. Giữ được màu nước tức là giữ được nguồn thức ăn cho tôm và giữ được môi trường sống tốt cho tôm sinh trưởng phát triển. Nước có màu xanh đọt chuối hay màu vàng nâu là tốt nhất, duy trì độ trong 30-45 cm. Muốn duy trì màu nước thì phải duy trì được các yếu tố môi trường nước ổn định. Để làm được điều này ao đầm phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Phải có ao chứa, độ sâu đảm bảo ( >1m) và phải bón phân gây màu, sử dụng một số chế phẩm sinh học. Định kỳ quan sát màu nước và bón phân hợp lý theo 1 trong 2 phương pháp vô cơ hoặc hữu cơ.Định kỳ dùng men vi sinh BRF2, Aquabac, Bacciluss 1070 vv..để bón xuống ao, thúc dẩy vi khuẩn có lợi phát triển. Định kỳ 10 ngày bón vôi nông nghiệp (CaCO3) hoặc Dolomite, mỗi lần 10-20kg/ha sau đó có thể bổ xung đường cát 0.5-1 kg/1000m3 nước. Ở các vùng đáy cát nhiều, độ mặn cao khó gây màu nên sử dụng phương pháp gây màu hữu cơ hoặc các thuốc gây màu tảo như BOOM-D kết hợp Bio-premix. Trước khi gây màu nước cần kiểm tra các thông số như pH (7.5-8.5), độ kiềm (80-150 ppm), NH3(<0.1mg/l), H2S (

Hỏi đáp

Đối tác
Thông tin liên hệ

CÔNG TY TNHH TM-DV KIM NGUYÊN BẢO

 Trụ sở: Số 57 đường 26/3, Khu phố 8, P. Bình Hưng Hoà, Q. Bình Tân, TP.HCM 

 ĐT: (028) 2217 5945 - 2246 2806 - Fax: (028) 3847 3563

 Email: tiennam@kimnguyenbao.com - info@kimnguyenbao.com

 Website: www.kimnguyenbao.com   - Thuocthuysannhapkhau.com

Fanpage

© Copyright 2017 Kimnguyenbao.com, all rights reserved.

Loading...